Dùng cho bố trí góc vuông, hình học thanh giằng hoặc đường dốc khi biết quan hệ ngang và đứng. Công cụ giả định một góc 90°.
- Hai đại lượng đã biết
- Chọn hai giá trị khác nhau: cạnh đáy, chiều cao, cạnh huyền, góc B hoặc góc C. Ít nhất một giá trị phải là độ dài cạnh.
- Mốc đo góc
- B là góc giữa cạnh đáy và cạnh huyền; C là góc nhọn còn lại.
Có thể nhập hai cạnh hoặc một cạnh và một góc nhọn. Chỉ biết hai góc thì không xác định được kích thước. Cạnh huyền phải dài hơn từng cạnh góc vuông.
- Cạnh đáy, chiều cao, cạnh huyền, hai góc nhọn và độ dốc phần trăm theo tỷ số chiều cao/cạnh đáy.
Cạnh đáy và chiều cao là hai đầu vào đã chọn.
| Đại lượng | Giá trị |
|---|---|
| Cạnh đáy; chiều cao | 4 m; 3 m |
| Cạnh huyền | 5 m |
| Góc B; góc C | 36,870°; 53,130° |
| Độ dốc | 75 % |
Cạnh huyền = √(cạnh đáy² + chiều cao²). B = atan(chiều cao/cạnh đáy); C = 90° − B. Độ dốc = 100 × chiều cao/cạnh đáy. Ba cạnh theo bộ tỷ lệ 3–4–5 quen thuộc.
Dùng nhất quán chiều dài hệ mét hoặc hệ Anh và giữ đủ chữ số đến lúc hiển thị kết quả cuối. Nhãn đã làm tròn trên sơ đồ không phải dung sai đo đạc.
Đây không phải công cụ giải mọi tam giác. Tam giác không vuông, phần dư cắt vát, chi tiết liên kết và chiều dày vật liệu nằm ngoài phép tính.
Vì sao chỉ biết hai góc không tính được chiều dài?
Hai góc xác định hình dạng, nhưng không xác định kích thước. Nhiều tam giác to nhỏ khác nhau có cùng các góc.
Phần trăm và độ có dùng thay nhau được không?
Không. Phần trăm bằng 100 lần tỷ số chiều cao/cạnh đáy; góc tính bằng hàm arctan của tỷ số đó.
- Vì sao chỉ biết hai góc không tính được chiều dài?
- Hai góc xác định hình dạng, nhưng không xác định kích thước. Nhiều tam giác to nhỏ khác nhau có cùng các góc.
- Phần trăm và độ có dùng thay nhau được không?
- Không. Phần trăm bằng 100 lần tỷ số chiều cao/cạnh đáy; góc tính bằng hàm arctan của tỷ số đó.
Số đo, đơn vị và thuật ngữ vật liệu
Về nhóm công cụ